Tính trợ cấp thôi việc
Nhập lương bình quân sáu tháng cuối và số năm làm việc không thuộc giai đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp, công cụ sẽ ước tính trợ cấp thôi việc mà doanh nghiệp phải chi trả khi chấm dứt hợp đồng đúng luật.
Nhập số liệu của bạn
Ai được hưởng trợ cấp thôi việc và mức tính ra sao?
Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 quy định người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, khi chấm dứt hợp đồng thuộc các trường hợp luật định như hết hạn hợp đồng, hai bên thỏa thuận chấm dứt, hoặc đơn phương chấm dứt đúng luật, sẽ được người sử dụng lao động trả trợ cấp thôi việc. Mức hưởng bằng một nửa tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc được tính trợ cấp. Người lao động bị sa thải kỷ luật, tự ý bỏ việc hoặc thuộc trường hợp hưởng lương hưu thì không thuộc diện hưởng khoản này.
Tiền lương làm căn cứ tính là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của sáu tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc. Đây là lương theo hợp đồng, có thể khác lương thực nhận nếu hợp đồng ghi thấp hơn thu nhập thật; đó cũng là lý do tranh chấp về căn cứ tính trợ cấp khá phổ biến. Nếu sáu tháng cuối có giai đoạn nghỉ thai sản hoặc nghỉ không lương, cách xác định bình quân thực hiện theo hướng dẫn của Nghị định 145/2020, lấy các tháng có lương thực tế liền trước để bảo đảm phản ánh đúng mức lương theo hợp đồng của bạn.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp là tổng thời gian bạn đã làm việc thực tế cho doanh nghiệp, trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và trừ thời gian đã được trả trợ cấp thôi việc hoặc mất việc trước đó. Quy định trừ này là điểm cốt lõi khiến nhiều người lao động hiện nay không còn khoản trợ cấp thôi việc đáng kể, vì bảo hiểm thất nghiệp đã bao phủ gần như toàn bộ quá trình làm việc từ năm 2009 đến nay.
Vì sao đa số người lao động hiện nay nhận trợ cấp bằng không?
Bảo hiểm thất nghiệp bắt đầu áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 và hầu hết người lao động thuộc diện bắt buộc đều được đóng liên tục từ đó. Vì thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp bị loại khỏi thời gian tính trợ cấp thôi việc, chỉ những giai đoạn không đóng bảo hiểm thất nghiệp mới sinh ra trợ cấp. Các giai đoạn đó thường là thời gian làm việc trước năm 2009, giai đoạn làm việc ở nơi trốn đóng hoặc không thuộc diện bắt buộc, hoặc khoảng thời gian doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm thất nghiệp mà sau này không truy đóng được.
Điều này không có nghĩa bạn mất quyền lợi: thay vào đó, bạn hưởng trợ cấp thất nghiệp từ quỹ bảo hiểm với mức 60 phần trăm lương đóng bảo hiểm trong tối đa 12 tháng, thường cao hơn nhiều so với nửa tháng lương mỗi năm của trợ cấp thôi việc. Hai chế độ được thiết kế bù trừ cho nhau chứ không cộng dồn. Khi nghỉ việc, hãy kiểm tra cả hai hướng: tính trợ cấp thôi việc tại trang này cho phần thời gian không đóng bảo hiểm thất nghiệp, và tính trợ cấp thất nghiệp tại trang chuyên biệt cho phần thời gian đã đóng, để có bức tranh đầy đủ về số tiền bạn sẽ nhận.
Trường hợp đặc biệt cần chú ý là người lao động cao tuổi có thời gian làm việc dài trước 2009, hoặc người từng làm việc ở khu vực không bắt buộc đóng bảo hiểm thất nghiệp. Với họ, trợ cấp thôi việc có thể là khoản tiền lớn bất ngờ bị bỏ qua khi thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Nếu bạn thuộc nhóm này, hãy yêu cầu doanh nghiệp cung cấp bảng tính chi tiết theo từng giai đoạn và đối chiếu với sổ bảo hiểm trước khi ký bất kỳ thỏa thuận nào về việc chấm dứt.
Thời gian lẻ, thời hạn chi trả và cách xử lý tranh chấp
Thời gian làm việc tính trợ cấp có tháng lẻ được làm tròn theo quy tắc: lẻ từ một đến sáu tháng được tính là nửa năm, lẻ trên sáu tháng được tính tròn một năm. Nhờ quy tắc này, người làm việc bốn năm bốn tháng được tính bốn năm rưỡi, còn bốn năm tám tháng được tính tròn năm năm. Khi nhập số năm vào công cụ, bạn có thể nhập số thập phân như 4,5 để phản ánh kết quả làm tròn, hoặc tự làm tròn tổng thời gian không đóng bảo hiểm thất nghiệp của mình trước khi tính.
Doanh nghiệp phải thanh toán đầy đủ các khoản liên quan đến quyền lợi của người lao động trong vòng 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày. Khoản trợ cấp thôi việc được chi trả một lần và thuộc thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân. Nếu doanh nghiệp chậm trả hoặc tính thiếu, bạn có quyền khiếu nại lên phòng lao động địa phương hoặc khởi kiện; hồ sơ quan trọng gồm hợp đồng lao động, quyết định chấm dứt, bảng lương sáu tháng cuối và sổ bảo hiểm đã chốt.
Một lưu ý thực tế: khi hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, mọi khoản hỗ trợ thêm ngoài luật đều là thương lượng. Con số trợ cấp theo luật tính tại trang này là mức sàn quyền lợi của bạn, hãy dùng nó làm điểm tựa khi đàm phán gói hỗ trợ cao hơn, đặc biệt khi doanh nghiệp là bên chủ động đề xuất chấm dứt. Ngược lại, nếu bạn là người chủ động xin nghỉ, việc hiểu rõ mình được gì theo luật giúp kỳ vọng thực tế và tránh nhường quyền lợi do thiếu thông tin.
Ví dụ minh họa: bình quân 10 triệu, 4 năm được tính trợ cấp
Giả sử tiền lương bình quân theo hợp đồng của sáu tháng cuối là 10.000.000 đồng và bạn có bốn năm làm việc thuộc giai đoạn chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp, ví dụ giai đoạn làm việc trước năm 2009 tại cùng doanh nghiệp. Mức trợ cấp bằng một nửa tháng lương nhân bốn năm, tức 0,5 nhân 4 nhân 10.000.000, bằng 20.000.000 đồng. Khoản này được trả một lần, miễn thuế thu nhập cá nhân.
Đối chiếu với trường hợp ngược lại: một người lao động vào làm từ năm 2015 đến nay, toàn bộ quá trình đều đóng bảo hiểm thất nghiệp, thì số năm được tính trợ cấp thôi việc bằng không và khoản trợ cấp này bằng không, dù thâm niên tới mười năm. Quyền lợi của họ nằm ở trợ cấp thất nghiệp: với 120 tháng đóng, họ được hưởng tới 11 tháng trợ cấp ở mức 60 phần trăm lương đóng bảo hiểm. Hai ví dụ đặt cạnh nhau cho thấy vì sao phải tính cả hai chế độ thay vì chỉ nhìn vào một con số.
Câu hỏi thường gặp
Nghỉ việc theo thỏa thuận có được trợ cấp thôi việc không?
Có, chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận thuộc các trường hợp được hưởng nếu bạn đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng và có thời gian làm việc chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp. Mức hưởng tính như thông thường. Các khoản hỗ trợ thêm ngoài luật tùy thuộc thỏa thuận giữa hai bên và nên được ghi rõ trong biên bản thỏa thuận chấm dứt.
Bị sa thải thì mất trợ cấp thôi việc phải không?
Đúng. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải không thuộc diện hưởng trợ cấp thôi việc. Tương tự, tự ý bỏ việc không lý do chính đáng cũng không được hưởng. Tuy nhiên thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp vẫn được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu việc chấm dứt không thuộc trường hợp đơn phương trái pháp luật theo quy định của Luật Việc làm.
Trợ cấp thôi việc khác gì trợ cấp mất việc làm?
Trợ cấp mất việc làm áp dụng khi doanh nghiệp cho thôi việc vì thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế, với mức cao hơn: mỗi năm làm việc một tháng lương và tối thiểu bằng hai tháng lương. Trợ cấp thôi việc áp dụng cho các trường hợp chấm dứt thông thường với mức nửa tháng lương mỗi năm. Cả hai đều trừ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp khi tính thời gian hưởng.
Doanh nghiệp nợ bảo hiểm thất nghiệp thì thời gian đó tính sao?
Về nguyên tắc thời gian doanh nghiệp nợ đóng vẫn là thời gian thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp và sẽ được truy đóng, nên thường không sinh trợ cấp thôi việc. Thực tế xử lý phụ thuộc việc chốt sổ và truy thu của cơ quan bảo hiểm. Nếu doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản, quyền lợi của bạn được ưu tiên thanh toán theo thứ tự luật định; hãy làm việc sớm với cơ quan bảo hiểm và phòng lao động địa phương.
Trợ cấp thôi việc có phải đóng thuế thu nhập không?
Không. Trợ cấp thôi việc chi trả theo đúng quy định của Bộ luật Lao động thuộc thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân. Nếu doanh nghiệp trả cao hơn mức luật định theo thỏa thuận riêng, phần vượt có thể bị tính thuế như thu nhập từ tiền lương tùy cách cấu trúc khoản chi; hãy yêu cầu thể hiện tách bạch hai phần trong quyết định chi trả.
Công cụ liên quan
Lưu ý: Công cụ này áp dụng các giả định đơn giản hoá được nêu rõ trong phần giải thích và chỉ cho kết quả ước tính tham khảo. Trường hợp cụ thể của bạn có thể khác do phụ cấp không chịu thuế, thu nhập nhiều nơi, nợ thuế cũ hoặc chính sách riêng của doanh nghiệp. Khi cần con số chính thức, hãy đối chiếu với bộ phận nhân sự – kế toán hoặc cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội địa phương.